a platform to facilitate business and investment
delivering market information and providing modern and effective business solutions for profitable projects
Tin liên quan

Nhu cầu tiêu thụ thép sụt giảm mạnh

22:38 | 24/10/2012 |  0 Phản hồi
Kinh tế suy giảm, BĐS đóng băng, xây dựng lao đao khiến nhu cầu tiêu thụ thép sụt giảm mạnh. Chính những khó khăn nội tại buộc DN ngành thép phải tái cơ cấu, điều này được dự báo sẽ có lợi cho 5 DN lớn đang niêm yết trên sàn chứng khoán có thể nâng thị phần từ 60% lên 80%.
Theo báo cáo ngành thép của CTy CK Maybank Kim Eng (MBKE), sản lượng tiêu thụ bình quân ngành chỉ đạt 360.000 tấn/tháng, thấp hơn 13,7% so với cùng kỳ. Trong khi đó, khả năng sản xuất của các DN thép trong nước là rất lớn. Cụ thể, trường hợp thép cán nguội, năng lực sản xuất trong nước đã lên tới 3,47 triệu tấn, nhưng nhu cầu chỉ đạt 1,3 triệu tấn/năm. Điều này dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trong nội bộ ngành. Rất nhiều DN thép trong nước phải hạ thấp công suất xuống 30 - 45% và chỉ hoạt động cầm chừng. Đơn cử như Hoà Phát (HPG), một DN lớn đang niêm yết trên sàn, chỉ tiêu thụ trên 400.000 tấn thép trong 8 tháng qua.


Nguồn: Internet
 
Mối đe dọa lớn dẫn đến tình hình sản suất và tiêu thụ thép nội địa âm gần 10% so với năm 2011 là do thép nhập khẩu từ Trung Quốc. Việc thép nhập khẩu từ Trung Quốc với giá rẻ, khối lượng lớn cũng là nỗi ám ảnh của các DN trong nước. Ông Nguyễn Tiến Nghi, Phó Chủ tịch Hiệp hội thép Việt Nam (VSA) cho biết, lượng thép nhập khẩu đã tăng gấp 7 lần so với cùng kỳ do biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ASEAN - Trung Quốc, loại thép có chứa vi lượng Bo (hàm lượng từ 0,0008% trở lên) được coi là thép hợp kim và được sử dụng như loại thép xây dựng nên được hưởng thuế ưu đãi 0%. Loại thép này nhập khẩu từ Trung Quốc có giá thấp hơn 14 - 20% so với thép nội. Có thể Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu thép sang các nước trong khu vực để giải phóng bớt lượng thép tồn kho đã tăng trên 20% trong 9 tháng qua. Điều này ảnh hưởng đến lượng tồn kho trong nước, làm cản trở sự hồi phục giá thép trong nước.
 
Để giúp DN trong nước khắc phục khó khăn trong việc cạnh tranh với thép nhập khẩu từ Trung Quốc, ông Nguyễn Tiến Nghi cho biết, hiện Bộ Công Thương đang áp dụng chế độ cấp giấp phép nhập khẩu tự động đối với một số sản phẩm thép, đây là biện pháp nhằm hạn chế nhập khẩu thép vào Việt Nam. Hiệp hội cũng đang nghiên cứu xem Việt Nam có nên xác định loại thép trên có phải là thép hợp kim hay không. Thực ra, hàm lượng Bo rất nhỏ, cũng rất khó để xác định vì công nghệ ở nước ta chưa đủ để thực hiện điều này. Biện pháp cuối cùng là biện pháp tự vệ thương mại, tức là có khả năng sẽ kiện Trung Quốc chống bán phá giá như các nước Brazil và Indonesia đã kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thép cán và cuộn nguội nhập khẩu từ Việt Nam.
 
Bên cạnh những áp lực từ bên ngoài, những khó khăn nội tại cũng ảnh hưởng nhiều đến kết quả kinh doanh của các DN ngành thép. Cụ thể, đặc thù ngành thép đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn nên đại đa số DN đều sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Ông Nguyễn Tiến Nghi cho rằng gánh nặng chi phí tài chính của ngành thép nói chung có nguyên nhân lịch sử. Hầu hết nguồn tài trợ đều đến từ vốn vay, một phần rất ít là tự có. Do đó, khi vay nợ nhiều, lãi suất lớn đương nhiên khấu hao bị ảnh hưởng, công nghệ thiết bị không đổi mới được, quy mô không tương xứng, khả năng cạnh tranh giảm đi.
 
Có thể thấy, 9 DN thép lớn trên thị trường chứng khoán đều có tổng dư nợ tính đến 30/06/2012 lớn hơn vốn chủ sở hữu. Hệ số DER (nợ phải trả/vốn chủ sở hữu) cao nhất phải kể đến Thép Nam Kim (NKG) 5,13 lần, tổng nợ là 1.995 tỷ đồng nhưng vốn chủ sở hữu chỉ 389 tỷ đồng. Phần lớn nợ phải trả của NKG đến từ nợ vay với hơn 1.525 tỷ đồng, trong đó chủ yếu lại là vay ngắn hạn. NKG cũng đứng đầu về tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu, bằng 3,92 lần. Ngoài NKG, còn đến 3 DN vay nợ gấp đôi, gấp ba lần vốn chủ sở hữu như Hữu Liên Á Châu (HLA) 3,34 lần, Thép Dana - Ý (DNY) 2,52 lần, Thép Việt Ý (VIS) 2,39 lần. Riêng Thép Tiến Lên (TLH) là có hệ số DER thấp nhất là với 1,01 đơn vị, nhưng gần như toàn bộ số nợ này đều là nợ ngắn hạn. Với việc sử dụng đòn bẩy lớn, chi phí tài chính luôn là mối lo ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả kinh doanh của DN thép. Ông Nghi cho rằng muốn phát triển được, DN phải thay đổi, hay nói đúng hơn là phải tái cơ cấu, nếu không tất yếu phải bị đào thải.
 
Mặc dù thị trường VLXD nói chung và tôn thép nói riêng bị ảnh hưởng khá nặng nề từ tình trạng tăng trưởng thấp của nền kinh tế nhưng chỉ duy nhất HSG vẫn đạt con số ấn tượng 3.000 tỷ đồng doanh thu thuần quý IV, và 12.620 tỷ đồng cả niên độ, tăng 12,26%. Lũy kế cả niên độ 2011 - 2012 (từ 1/10/2011 - 30/9/2012), HSG lãi 359,21 tỷ đồng, tăng 14,24% so với niên độ trước. Tất cả các DN còn lại đều giảm mạnh lợi nhuận, DTL giảm mạnh hơn 18 lần, NKG giảm 13 lần, POM giảm 9 lần… SMC chỉ đạt khoảng 38 tỷ đồng lợi nhuận, rất khó hoàn thành kế hoạch 80 tỷ đồng do khó khăn chung của ngành thép, giá bán giảm, sức tiêu thụ chậm.
 
Các chuyên gia của MBKE nhận định, mặc dù ngành thép đang cung dư thừa nhưng nguồn cung này đến từ các công ty thép có công nghệ lạc hậu và hoạt động kém hiệu quả, trên 60% DN sử dụng công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh yếu. Theo MBKE, hiện việc tái cơ cấu trong ngành đã bắt đầu và có ít nhất 5 công ty giải thể trong 9 tháng đầu năm 2012. Điều này đẩy mạnh gia tăng thị phần của 5 Cty lớn nhất ngành (HPG, POM, TIS, VIS và DNY) từ 60% lên 80%. Đây cũng là hướng đi chung của thị trường thép tại nhiều nước trong khu vực.

Sơn Hà (tổng hợp)
BVI.
Đánh giá (0)
(Bình luận của bạn có thể sẽ được biên tập trước khi xuất bản)